Zona là 1 bệnh ngoài da với mụn nước mọc thành chùm trên nền da đỏ, thường khu trú tại 1 bên cơ thể, kèm cảm giác đau rát nhiều. đấy là thực trạng nhiễm virut Herpes zoster (HZ) cấp tính của hệ thần kinh trung ương và ngoại vi, thường chỉ xẩy ra ở một bên rễ thần kinh tủy sống.
Di chứng sau zona
thường niên, tỉ lệ mắc bệnh zona lên tới mức 1,5 - 3%, bệnh có tỷ lệ mắc cao ở người già & trung niên, thường sau 45 tuổi. Khi mắc bệnh, đa phần bệnh nhân đến bệnh viện chuyên khoa để được khám và điều trị đúng phác đồ thường hơi trễ 72 giờ, ở giai đoạn này, virut đã xâm nhập và gây tổn thương tại những rễ & dây thần kinh liên. chính vì vậy mà tỉ lệ bệnh nhân điều trị khỏi bệnh zona nhưng vẫn còn đó di chứng đau thần kinh sau zona không hề thấp. đấy là di chứng đáng lo lắng nhất của bệnh zona đối với những người bệnh là gây đau nhức, rát bỏng vùng da bị zona hàng tuần, các tháng, có khi kéo dài cả năm mặc dầu vùng da đó đã khỏi trọn vẹn. cho nên sẽ khiến cho những người bệnh stress, ăn kém, xôn xao giấc ngủ kéo dài và làm mở ra nhiều bệnh khác cho người bệnh. Tỉ lệ biến chứng đau nhức vùng da sau khi bị zona ở các cụ chiếm gần 1/3 số lượng người bị bệnh.
Zona ở người già (thường trên 60 tuổi) hoặc zona ở những member có suy giảm miễn dịch như người đang dùng thuốc ức chế miễn dịch hoặc corticosteroid, những người nhận ghép cơ quan có dùng thuốc chống thải ghép & những người dân HIV (+) là những cá thể dễ bị tổn thương thần kinh ngay trong thời kỳ đầu của bệnh zona và tỉ lệ di chứng đau thần kinh sau zona cao hơn.
chọn lựa những thuốc điều trị đau thần kinh sau zona 1
Tổn thương do bệnh zona.
lựa chọn những thuốc điều trị đau thần kinh sau zona
Đau thần kinh sau zona hiện nay vẫn chưa tồn tại thuốc điều trị đặc hiệu, cơn đau thường không cung ứng với những thuốc kháng viêm giảm đau bình thường như: aspirin, paracetamol hay giảm đau nhóm non-steroid như: meloxicam, tenoxicam, piloxicam...
Thuốc uống
Nhóm thuốc opioids là các dẫn xuất của thuốc phiện như oxycodon 5mg. Tổng liều có thể đến 80mg từng ngày (hoặc cao hơn) cho những người bệnh có cơn đau kinh hoàng. khi dùng nhóm thuốc này, người bệnh hoàn toàn có thể gặp xúc cảm buồn ngủ, buồn nôn, choáng váng & táo bón.
Nhóm thuốc chống trầm cảm ba vòng: nortryptylin hoặc desipramin 10 – 25mg uống lúc đi ngủ. Amitriptylin cũng luôn tồn tại hiệu quả nhưng có thể kém dung nạp ở người già. tác dụng ngoại ý của group thuốc này thường là: gây ngủ, lú lẫn, những công dụng kháng cholinergic (khô miệng, mờ mắt, táo bón, bí tiểu).
Gabapentin: khi sử dụng thuốc này cần tăng liều dần khi cần trong thời gian 4 tuần lễ. tác dụng ngoại ý: buồn ngủ, choáng váng, thất điều, rung giật (nhãn cầu).
Capsaicin (dạng kem): Thoa tại chỗ 3 – 4 lần mỗi ngày. Chỉ bôi lên vùng da nguyên vẹn, đã lành; buổi đầu với chế phẩm nồng độ thấp, nếu dung nạp được, tăng ngày một nhiều đến chế phẩm có nồng độ cao.
Lidocain (băng dán 5%): Dán lên vùng bị đau; rất có thể dùng cùng lúc 3 băng dán trong một thời gian tối đa là 12 giờ. chỉ nên dán lên vùng da đã lành nguyên vẹn; hoàn toàn có thể cắt băng dán cho hợp với form size vùng da.
Thuốc tiêm
những tình huống đau dây thần kinh sau zona kéo dài và kinh hoàng rất có thể tiêm vào khoang dưới màng nhện của tủy sống myehyl prednisolon acetat 1 tuần/lần trong 4 tuần cũng có tác dụng giảm đau đáng kể. cần có bác sĩ chuyên khoa gây mê phối với bác sĩ da liễu mới tiêm được.
Thủy châm điều trị đau thần kinh sau zona: Là phương pháp tiêm vào huyệt các thuốc có chỉ định tiêm bắp nhằm chữa bệnh. Với hai chức năng của thủy châm là vừa phát huy tác dụng lên hệ kinh lạc của dung dịch thuốc, vừa phát huy tính năng dược lý của thuốc.
Thuốc tiêm vào huyệt ngoài tính năng tại chỗ hoặc toàn thân còn công dụng tăng cường & duy trì kích thích của châm kim vào huyệt để nâng cao hiệu suất cao chữa bệnh. chưa được sử dụng các thuốc tiêm dầu, thuốc tiêm mạch máu, các thuốc tiêm bắp thịt mà người bệnh dùng bị phản ứng.
Thuốc để làm thủy châm là các thuốc có khả năng tăng tốc dinh dưỡng & chống đau thần kinh như: terneurin, neurobion, dibencozid xáo trộn với lidocain.
nên tránh thủy châm ở những huyệt đầu ngón chân, ngón tay, tinh giảm thủy châm ở những huyệt đầu mặt. tránh việc thủy châm ở những huyệt khe khớp như Kiên ngung, Tất nhãn, Độc tỵ, tránh việc làm thủy châm ở những huyệt nằm trên phố đi của dây thần kinh chính như: Nội quan, Ngoại quan, những huyệt nằm trên các mạch máu lớn & số huyệt không nên nhiều quá trong những lần thủy châm.
cân nặng thuốc tiêm vào huyệt cũng căn cứ vào tổ chức triển khai phần mềm vùng tiêm nhiều hay ít, dày hay mỏng mảnh. Nếu huyệt nơi tiêm chỉ có lớp da cơ mỏng mảnh như những huyệt vùng đầu, mặt, vành tai chỉ việc tiêm 1 đến vài giọt. những huyệt nằm trên vùng có khối cơ bắp dày như huyệt ở sống lưng hoàn toàn có thể tiêm vào mỗi huyệt từ 0,5 - 1ml.
thời khắc điều trị nên chữa từng đợt, mỗi đợt điều trị từ 2 - 4 tuần và mỗi tuần thủy châm 3 lần (cách nhật).






0 nhận xét:
Đăng nhận xét